Jean – Paul Sartre
Tìm hiểu về Jean – Paul Sartre — triết học trong danh sách danh nhân thế giới. Tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp nổi bật của Jean – Paul Sartre.
Sir Karl Popper (28 tháng 6 năm 1902 – 17 tháng 9 năm 1994) là một nhà triết học người Áo, người đề xuất các ý tưởng về một xã hội mở, một xã hội mà ở đó sự bất đồng chính kiến được chấp nhận và đó được xem như một tiền đề để tiến tới việc xây dựng một xã hội hoàn thiện. Ông cũng được xem như là người sáng lập Chủ nghĩa Duy lý phê phán.
Karl Popper sinh tại Viên năm 1902, là con một luật sư giàu có. Popper lớn lên trong một gia đình mà sách và âm nhạc luôn đóng vai trò quan trọng. Ngay từ khi còn trẻ Popper đã chú ý đến những câu hỏi về triết học. Từ 1920 đến 1922 ông học tại Trường Âm nhạc Wien, khoa nhạc nhà thờ, thế nhưng chẳng bao lâu lại hủy bỏ ý định trở thành nhạc sĩ. Ông tốt nghiệp khóa đào tạo sư phạm vào năm 1924, thế nhưng do không có nơi nhận làm thầy giáo nên ông đã làm việc trong một cơ sở xã hội giáo dục trẻ em. Năm 1925 ông theo học tại Viện sư phạm. Năm 1928 ông bảo vệ luận án phó tiến sĩ tại nhà tâm lý học và ngôn ngữ học Karl Bühler. Thông qua những năm học tập này Popper đã làm quen với thuyết tâm lý học của Oswald Külpe và trường phái Würzburg, những việc đã có ảnh hưởng quyết định đến quan điểm về sư phạm và sau này là đến thuyết nhận thức của ông. Khi bắt đầu tiếp xúc với Nhóm Wien chung quanh Moritz Schlick, Rudolf Carnap và Otto Neurath, Karl Popper bắt đầu đặt bút viết những dòng tư tưởng về triết học của ông. Trong khoảng thời gian ba năm ông viết một bản thảo mà ngày nay chỉ còn tồn tại một phần. Phần còn lại của bản thảo này được ấn hành năm 1934 dưới dạng rút ngắn với tựa đề Logik der Forschung (Lôgic của việc nghiên cứu) và mãi đến năm 1979 mới được xuất bản dưới tựa đề Die beiden Grundprobleme der Erkenntnistheorie (Hai vấn đề cơ bản của nhận thức luận). năm 1945, 16 người thân quyến của ông đã bị Đức Quốc Xã giết hại. Ra đời trong thời gian này là tác phẩm The Poverty of Historicism (Sự khốn cùng của chủ nghĩa lịch sử) cũng như là The Open Society and Ist Enemies (Xã hội mở và những kẻ thù của nó), tác phẩm đã mang lại cho ông danh