Ngô Sĩ Liên
Tìm hiểu về Ngô Sĩ Liên — lịch sử trong danh sách danh nhân thế giới. Tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp và những đóng góp nổi bật của Ngô Sĩ Liên.
Ngô Sĩ Liên là nhà sử học thời Lê sơ, sống vào thế kỷ 15. Ông là người có công lớn trong việc biên soạn bộĐại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử chính thống cũ nhất của Việt Nam mà còn được lưu truyền tới ngày nay
Ngô Sĩ Liên người làng Chúc Lý, huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Hoà, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội).
Về năm sinh và năm mất của ông, hiện nay vẫn chưa được biết thật đích xác, nhưng theo sách Đại Việt lịch triều đăng khoa lụcthì ông thọ tới 98 tuổi.
Theo các tài liệu mới được công bố gần đây Ngô Sĩ Liên tham gia khởi nghĩa Lam Sơn khá sớm, cùng với Nguyễn Nhữ Soạn (em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Trãi) giữ chức vụ thư ký trong nghĩa quân, nhiều lần được Lê Lợi cử đi giao thiệp với quân nhà Minh trong những thời kỳ đôi bên tạm hòa hoãn để củng cố lực lượng.
Ông đỗ đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) đời Lê Thái Tông[1], cùng khoa thi với Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ, Lương Như Hộc. Đây là khoa thi đầu tiên được triều đình tổ chức lễ xướng danh, yết bảng; các vị tiến sĩ tân khoa được vua ban mũ áo, vào cung dự yến, được ban ngựa quý để đi dạo chơi thăm phố xá kinh kỳ, được ân tứ vinh quy với lễ đón rước rất trọng thể. Và sau này, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, họ tên lại được khắc vào bia đá, đặt ở Văn Miếu, để làm gương sáng cho muôn đời.
Sau khi thi đỗ, Ngô Sĩ Liên đã từng giữ các chức Đô ngự sử dưới triều Lê Nhân Tông Lê Nghi Dân và Lê Thánh Tông ], Lễ bộ Hữu thị lang , Triều liệt đại phu kiêm Quốc Tử Giám Tư nghiệp kiêm Sử quan tu soạn dưới triều Lê Thánh Tông
Đóng góp to lớn mà Ngô Sĩ Liên còn để lại cho đời sau chính là bộ Đại Việt sử ký toàn thư mà ông đã biên soạn theo lệnh nhà vua, được bắt đầu biên soạn vào năm Kỷ Hợi, niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479) đời Lê Thánh Tông[5]. Bộ sử gồm 15 quyển , chia thành hai phần:
1. Phần một (ngoại kỷ), gồm 5 quyển, chép từ thời Hồng Bàng đến hết thời Bắc thuộc (năm 938).
2. Phần hai (bản kỷ) gồm 10 quyển, chép từ thời Ngô Quyền dựng nước (năm 938) đến khi vua Lê Thái Tổ