Giao Duc Khoa Cu Thời Trận

Nhà Trần thay thế nhà Lý đã đẩy mọi mặt của công cuộc xây dựng đất nước trên quy mô lớn hơn, tốc độ nhanh hơn. Sức mạnh và trí tuệ của dân tộc đã phát triển không hề dừng lại trong quá trình suy yếu của triều Lý, giờ đây nó được điều kiện phát huy cao hơn, mãnh mẽ hơn trong bước phát triển đầy sinh lực của một triều đại mới- triều Trần.
Công cuộc xây dựng đất nước và ba lần chiến thắng quân Nguyên một đội quân hùng mạnh vào bậc nhất thế giới lúc bấy giờ đã tạo nên “hào khí Đông A” và trí tuệ Đại Việt trên nhiều lĩnh vực: nông nghiệp, quân sự, y học, tôn giáo...
Nhưng so với thời Lý, ở thời Trần, Nho giáo mạnh dần lên, lấn dần địa vị trong chính trị, mở rộng sức hoạt động trong địa hạt văn học giáo dục.
Nhiều công cuộc kích Phật giáo của Nho sĩ còn ghi đậm dấu ấn trong sử sách, tuy chưa phải là cuộc tấn công có tính chất luận chiến về học thuật tư tưởng, cũng chứng tỏ sự lấn át của Nho giáo với Phật giáo trong mối quan hệ hòa hợp. Tất nhiên nhìn vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân thì Nho giáo chưa có mấy ảnh hưởng.
Trên bình diện tư tưởng thì tam giáo Nho, Phật, Đạo vẫn tồn tại cùng với tư tưởng truyền thống, trong đó Nho giáo mạnh lên vĩ đội ngũ, gắng giành địa vị trong mọi hoạt động và thể hiện vai trò của mình với đời sống dân tộc, tạo nên nét đặc sắc của tư tưởng và văn hóa giáo dục thời Trần.
- Những chính sách của nhà Trần
Năm Bính Thân- 1236 vua Trần Nhân Tông củng cố tổ chức của Quốc tử giám lúc này gọi là Quốc tử viện nhà vua đã “bổ dụng Phạm Ứng Thần làm Thượng thư kiêm giữ chức Đề điệu- Quốc tử viện cho con em các quan văn vào học viện”.
Tại Viện quốc học lúc này học tập theo hệ thống kinh điển Nho giáo Tứ thư và Ngũ kinh. Năm 1253: “tháng 9 xuống chiếu cho các nho sinh trong nước đến Quốc tử giám giảng học Tứ thư, Ngũ kinh”.
Quốc học viện lúc này đảm nhận việc học cho các Nho sĩ ở trình độ cao, tại Viện có tài liệu sách vở, có thầy giỏi và tất nhiên có nơi ăn cho các giám sinh ở xa.
Kể từ năm Nhâm Tý-1276 Quốc tử viện được vua Trần cho phép đón con em nhà dân thường nhưng giỏi vào học.
Năm Tân Tỵ- 1281 vua Trần lập thêm một nhà Quốc học nữa tại phủ Thiên Trường quê hương học Trần, nhưng chỉ tiếp nhận học viên trong phủ. Kỳ thi tiến sĩ thường mở tại Quốc tử giám- Văn miếu nhưng năm Giáp Dần- Long Khánh thứ 2 (1374) tại nhà Quốc học phủ Thiên Trường đã mở khoa thi Thái học sinh.
Cùng với hai trường Quốc học nhiều trường tư thục lớn do những thầy giỏi đỗ cao mở, tại đây nó đảm nhận bậc học cao ngang với trường quốc học vì nhiều học sinh của trường này đỗ tiến sĩ.
Tiêu biểu nhất là trường của Chu Văn An, ông đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học. Đời Trần Minh Tông ông được triều đình mời ra giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám. Sau dâng sớ “thất trảm” không được vua chấp nhận, từ quan về tiếp tục dạy học. Ông là người thầy tiêu biểu về đạo đức đã đào tạo ra nhiều bậc đỗ đạt cao nổi tiếng về chính sự và thơ văn như Phạm Sư Mạnh và Lê Bá Quát... Hình ảnh và gương sáng của Chu Văn An sáng ngời trong sử sách: “Nét đẹp nghiêm nghị mà đạo làm thầy được tôn, lời nói lẫm liệt mà kẻ nịnh phải sợ. Người sau nghìn năm nghe phong thái của ông há kẻ điêu ngoa không thành liêm chính, mà kẻ hèn nhát không tư lập được hay sao?” và “thật đáng là bậc tôn sư nhà nho cả nước”.
Nhà nước cũng tạo nhiều điều kiện cho việc học tập như tìm sách vở, lập thư viện. Nghề in thời Lý bó hẹp trong phạm vi in ấn của nhà chùa, sang thời Trần nhà nước in nhiều tài liệu để phục vụ học tập như Tứ thư, Ngũ kinh và nhiều tài liệu khác.
Đến năm Giáp Tý- 1384 đời Trần Phế đế một thư việ lớn được xây dựng trên núi Lạn Kha bên cạnh chùa Phật Tích nổi tiếng. Đến tháng 2 năm này nơi chùa và thư viện đã tổ chức kỳ thi Thái học sinh. Danh nho Trần Tôn được cử làm viện trưởng thư viện Lạn Kha, ông đồng thời là người thầy nổi tiếng.
Việc học phát triển rộng trong nhân dân, cho nên khoa thi năm Quí Hợi- 1323 có người lính thi đỗ Thái học sinh (chỉ tiếc rằng luật lệ lúc đó không công nhận người đang ở quân ngũ thi cử).
Năm Đinh Sửu- 1337 Trần Thuận Tông xuống chiếu mở mang thêm một bước về việc học, đặc biệt là ở địa phương: “Đời xưa, nước có nhà học lại có nhà trường là để tỏ rõ giáo hóa, giữ gìn phong tục, ý Trẫm rất mộ. Nay quy chế ở kinh đô đã đủ mà ở châu huyện thi còn thiếu làm thế nào để mở rộng giáo hóa cho dân được? Nên hạ lệnh cho các lộ phủ Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Đông đều đặt một học quan, cho ruộng công theo thứ bậc khác nhau... để cung phí cho nhà học... quan lộ và quan đốc học dạy bảo học trò cho nên tài nghệ cứ đến cuối năm chọn người vào ưu tú tiến cử lên triều đình Trẫm sẽ thân hành thi để lấy dùng”.
Từ hệ thống trường lớp này nhà Trần đã tổ chức được một nền học tập và khoa cử chính qui. Kể từ khoa thi đầu tiên tổ chức cuối năm Đinh Hợi- năm 1227 đời vua Trần Thái Tông đến khoa thi cuối cùng của triều này năm Bính Tý- 1396 đời vua Trần Thuận Tông nhà Trần đã tổ chức được 19 khoa thi chủ yếu là thi Thái học sinh tương đương với tiến sĩ sau này, trong đó có một khoa thi Tam giáo.