Nhân vật - Địa danh

Đinh Liễn

Đinh Liễn ( ?-979) hay Đinh Khuông Liễn là hoàng tử nhà Đinh, con trai Đinh Bộ Lĩnh (tức Đinh Tiên Hoàng), người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình). Ông từng được Đinh Bộ Lĩnh cử làm con tin ở triều đình Cổ Loa và sứ giả ở Trung Hoa, được Vua Đinh Tiên Hoàng phong chức Nam Việt Vương để khẳng định uy quyền hoàng đế của một quốc gia độc lập.

Năm 968, khi Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, định đô ở Hoa Lư, Đinh Liễn được phong làm Nam Việt Vương.

Năm 972, Đinh Liễn phụng mệnh cha đi sứ nhà Tống. Năm sau ông trở về. Nhà Tống sai sứ sang phong cho vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương và phong Đinh Liễn làm Kiểm hiệu thái sư, Tĩnh Hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ.

Là người sùng kính đạo Phật, năm 973 Đinh Liễn đã cho dựng 100 cột kinh Phật bằng chữ Hán ghi âm tiếng Phạn tại kinh đô Hoa Lư. Trên các tràng kinh này Đinh Liễn đặt tên mình là Đinh Khuông Liễn, có ý tôn thờ quốc sư Khuông Việt và sùng đạo Phật Hiện nay các nhà nghiên cứu còn phát hiện được di tích của gần 20 cột kinh tại Hoa Lư.

Năm 975, nhà Tống sai Cao Bảo Tự cùng Vương Ngạn Phù đem chế sách sang gia phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Khai phủ nghi đồng tam ty, Kiểm hiệu thái sư, Giao Chỉ quận vương (Tống sử, quyển 488 thì chép việc phong này là cho Đinh Bộ Lĩnh). Từ đó về sau, trong việc sai sứ sang nhà Tống, vua Đinh đều lấy Liễn làm chủ.

Năm 978, Đinh Bộ Lĩnh lúc đó đã có thêm 2 người con trai bé là Toàn và Hạng Lang. Vua yêu con nhỏ nên lập Hạng Lang làm Thái tử.

Đầu năm 979, Đinh Liễn quá tức giận nên đã sai người ngầm giết chết Hạng Lang. Để nguôi lòng cha mẹ, Đinh Liễn đã dựng nhiều cột viết những bài tụng kinh Phật ở kinh đô Hoa Lư tỏ ý ân hận vì việc này. Phần lạc khoản trên các cột kinh là những lời sám hối của ông. Lạc khoản có đoạn: "... cơ sự đã đến nông nỗi chém giết nhau này, thật hối hận, bèn xin dựng một trăm tòa kinh báu dâng Phật cầu cho vong hồn em trai đã mất và các vong linh gia tiên được giải thoát khỏi sự bắt bớ tra hỏi nơi địa ngục..."

Phan Huy Chú sở dĩ coi nước Việt từ thời Đinh Lê mở nước đối chọi với Trung Hoa, bởi tính từ thời điểm này trở đi, vị thế của một đế quốc phong kiến độc lập đã được khẳng định, tư tưởng bá chủ trời Nam đã hết sức sáng rõ như chính lời chúc của Nam Việt Vương Đinh Liễn nhắn gửi trên cột kinh tràng chùa Nhất Trụ: “Chúc Đại Thắng Minh hoàng đế mãi làm bá chủ trời Nam, giữ yên ngôi báu…”, “mãi trấn vững trời Nam, thứ là khuông phù cơ nghiệp đế vương.”