Nhân vật - Địa danh

Pháp Xâm Lược - Chi Tiết

-Thời gian: 1858-1884

-Âm mưu của Pháp

Ở châu Âu, chủ nghĩa tư bản ra đời từ thế kỷ XV, XVI, XVII và ngày càng phát triển. Các thương nhân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... được sự giúp đỡ của nhà nước, đã tổ chức nhiều đoàn thám hiểm. Sau đó, họ thành lập nhiều công ty thương mại, đổ xô sang các châu Mỹ, Á, Phi hòng vơ vét vàng bạc, hương liệu (đinh hương, hồ tiêu, chè...) và nhiều loại nguyên liệu khác với giá rẻ, đồng thời bán hàng công nghệ phẩm. Chủ trương thôn tính, xâm lược các nước ở ba châu lục này thường được nêu ra với các chính quyền nhà nước vì giai cấp tư sản châu Âu đang lên rất cần vốn, nguyên liệu rẻ mạt để phát triển kỹ nghệ chính quốc và cần thị trường tiêu thụ hàng hóa làm ra.

Chủ nghĩa tư bản châu Âu sử dụng các giáo sĩ của các đoàn truyền giáo làm người “tiên khu” cho công cuộc thực dân. Họ có điều kiện len lỏi dễ dàng vào các vùng đất mới, tìm hiểu khá kỹ về địa lý, tài nguyên, phong tục, khả năng kinh tế và thực lực quốc phòng các vùng đó để giới thiệu với các tổ chức thương nhân hoặc làm môi giới dẫn đường cho kẻ sẽ chinh phục các miền này.

Năm 1686, Véret - một chủ tiệm buôn Pháp ở Xiêm La - cũng từng chú ý đến vị trí ở Côn Đảo trên con đường biển từ Ấn Độ đến Trung Quốc.

Vào thế kỷ XVI, XVII, các cảng: phố Hiến ở Đàng Ngoài và Hội An ở Đàng Trong đã đón tiếp các thuyền buôn Nhật, Hà Lan, Bồ Đào Nha... lui tới giao lưu thương mại...

Người Pháp tuy có ý đồ nhưng chưa kịp có hành động gì, thì năm 1702 nhóm Công ty thương mại Catchpole của Anh chiếm Côn Đảo - lúc này do dinh Trấn Biên cai quản. Chúng lập đồn lũy, bố trí phòng thủ và dựng kho chứa hàng.

Đại Nam thực lục tiền biên của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi:

... Mùa thu năm ấy Hiến tông hoàng đế thứ 11 (1702) bọn hải phỉ là Tô - Lợi - già - thi (phiên âm chữ Catchpole) người An Nam - liệt (phiên âm từ English: Anh) năm người xưng là năm bang cùng đồng bọn 200 người tới đậu vào cảng Côn Lôn, kết trại sách, hàng hóa quý báu chất như núi, bốn mặt đều đặt đại bác”.

Quan trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phước Phan - con thứ ba đại thần Trương Phước Cương, lấy con gái chúa Nguyễn (Nguyễn Phước Thái) - “đem việc ấy tâu về, chúa sai tìm kế diệt trừ bọn ấy. Phan bèn chiêu mộ 15 người Đồ - bà (Java) bí mật giả tới đầu hàng”, “nhân đêm phóng hỏa đốt chết nhất ban, nhị ban, bắt sống ngũ ban, còn hai tên tam ban, và tứ ban ra biển chạy trốn. Phan nghe báo lập tức sai binh thuyền ra Côn Lôn thu hết vàng lụa lấy được đem nộp, chúa bèn trọng thưởng”.

Lần đầu tiên, thực dân đế quốc phương Tây nếm đòn trừng trị tại Trấn Biên - Đồng Nai.

Năm 1721 đại diện của Công ty thương mại Pháp ở Ấn Độ tới Côn Lôn, ghi được dân số ở đây chừng 200 người (kể cả phụ nữ và trẻ em) và thất vọng, cảm thấy cô lập ở một nơi khó trồng tỉa, khó phòng thủ vì vậy đã tự động rút khỏi đây sau gần một năm đặt chân tới.

Năm 1749, giáo sĩ kiêm lái buôn người Pháp Pierre Poivre đến Đàng Trong truyền đạo đồng thời thu thập tin tức tình hình mọi mặt: chính trị, phong tục, sản vật, tôn giáo.... Khi về nước, ông ta báo cáo:

"Một công ty muốn đứng được ở Đàng Trong và có thiết bị chắc chắn để buôn bán có lợi thì cần có phương tiện để khiến người ta kiêng nể và kính trọng. Ta có thể chuyển người Đàng Trong sang các thuộc địa của ta để làm thợ sản xuất đường, tơ lụa.... Ta có thể chuyển sang cả thợ cày, thợ mộc".

Năm 1784, sau năm lần liên tiếp thua quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh trực tiếp cầu viện tư bản Pháp giúp binh lính, súng đạn, tàu chiến. Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaime) thay mặt Nguyễn Ánh ký với đại diện vua Pháp Louis XVI bản hiệp ước Versailles gồm 10 khoản (trong đó có khoản nhường Côn Đảo và Hội An cho Pháp tự do buôn bán). Hiệp ước này không thể thực hiện được vì tình thế của cuộc cách mạng Pháp năm 1789, nhưng nó xâm phạm chủ quyền độc lập đất nước. Hiệp ước này mở đường cho tư bản Pháp thực hiện âm mưu, kế hoạch xâm lược Việt Nam.

Từ nửa sau thế kỷ XVIII đất nước ta đứng trước hiểm họa mới.

Sau khi diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi năm 1802 lấy hiệu là Gia Long, khởi đầu triều Nguyễn. Nguyễn Ánh và các vua kế vị thi hành các chính sách chuyên chế nhằm củng cố quyền lợi dòng họ và giai cấp địa chủ phong kiến. Tuy có làm được một số điều thúc đẩy một số mặt kinh tế - xã hội nào đó tiến lên, nhưng nhìn chung tập đoàn vua quan thống trị tăng cường áp bức bóc lột mọi tầng lớp nhân dân, thi hành chính sách trọng nông ức thương và kìm hãm ngành nghề thủ công, đẩy nền kinh tế vào tình trạng suy đốn. Chính sách đối ngoại bế quan tỏa cảng đã hoàn toàn tự hãm mình vào thế cô lập. Chính sách cấm đạo Công giáo, coi đạo này là tà đạo, tuy với ý định tốt bảo vệ an ninh chủ quyền đất nước song việc đàn áp và thiếu biện pháp thuyết phục lôi cuốn giáo dân đứng về phía dân tộc đã tạo duyên cớ cho địch lợi dụng khoét sâu chia rẽ khối đoàn kết toàn dân (chỉ một lần duy nhất năm 1836 chỉ dụ của triều đình xác định rõ lý do cấm đạo vì giáo sĩ nước ngoài phạm tội do thám).

"Ngay khi còn dựa vào giáo sĩ và người Pháp để đánh Tây Sơn, trong thâm tâm, Nguyễn Ánh cũng đã bắt đầu nghi ngờ, gờm sợ người Pháp và giáo sĩ. Vì vậy sau khi lên ngôi, Gia Long muốn xa lánh họ, hơn thế, muốn cự tuyệt họ.... Trong 20 năm ở ngôi, phương hướng giải quyết của Gia Long là cố sức gìn giữ mối quan hệ êm thắm với người Pháp và giáo sĩ, vì thấy rằng ở địa vị và hoàn cảnh của mình thì chưa thể "trở mặt" ngay với họ được. Gia Long muốn kéo dài tình trạng nhùng nhằng đó cho đến hết đời mình để rồi sẽ chuyển giao nhiệm vụ giải quyết vấn đề cho kẻ nối ngôi"..." Những chỉ dụ cấm đạo của Minh Mạng được ban hành sau khi Gia Long chết" về thực chất là sự thực hành đường lối cơ bản của Gia Long mà thôi"..." Thiệu Trị rồi Tự Đức kế tiếp nhau trị vì một đất nước "đóng kín". Vả chăng những biến chuyển mới không còn thuận lợi cho khả năng "mở cửa" mà trước hết là ý đồ xúc tiến công cuộc can thiệp vũ trang của thực dân Pháp đã được xác định. Tự Đức càng xoay xở càng lúng túng, cuối cùng không còn cách nào khác là dấn sâu thêm vào con đường Gia Long đã "lựa chọn" và Minh Mạng đã "triển khai".

Các cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra liên tiếp ở nhiều địa phương nhất là ở Bắc Hà, khiến triều đình Huế càng thêm lúng túng ứng phó.

Các nguyên nhân kể trên và nhiều nguyên nhân khác nữa đẩy triều Nguyễn vào thế bất lực, hèn yếu và vì vậy thất bại trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa thực dân Pháp. Họ phải chịu trách nhiệm về việc mất nước.

Vào các năm 1843, 1845, 1847 các tàu chiến Pháp liên tiếp vào cửa biển Phước Thắng (Vũng Tàu), ghé đảo La Dứ (Quảng Bình), cửa Ba Lạt (Nam Định) và Đà Nẵng, không kiêng nể chính quyền nhà Nguyễn và đưa ra các yêu sách: yêu cầu triều đình Huế bảo đảm tự do giao thương và tự do truyền đạo. Tư bản Pháp càng quan tâm hơn đến Việt Nam từ khi Napoléon III lên ngôi. Montigny được cử làm sứ thần đến Đà Nẵng đưa ra các đề nghị: đặt lãnh sự ở Huế, mở thương điếm ở Đà Nẵng và tự do truyền đạo. Cuộc thương lượng không thành, Montigny ra về với lời đe dọa sẽ dùng vũ lực. "Ủy ban nghiên cứu vấn đề về Việt Nam" được thành lập ở Pháp, họp từ ngày 28 - 4 đến 18 - 5 - 1857 định kế hoạch đánh chiếm nước ta, mục tiêu đầu tiên là Đà Nẵng.

Ngày 1 - 9 - 1858, dưới quyền chỉ huy của đô đốc De Genouilly, 15 chiến thuyền của liên quân Pháp - Tây Ban Nha với 850 quân Tây Ban Nha và 1.500 quân Pháp (trong đó có 2 đại đội gồm bọn Việt gian, thổ phỉ, một số giáo dân) kéo vào vịnh Đà Nẵng nổ súng, đổ bộ, chính thức mở màn xâm lược nước ta. Số giáo sĩ nước ngoài hứa hẹn với đạo quân viễn chinh: hễ liên quân đến thì giáo dân sẽ nổi lên hưởng ứng; nhưng thực tế điều ấy không xảy ra. Họ cũng thông báo rằng quân triều đình ít, sợ vũ khí tối tân châu Âu và sẽ tan rã ngay khi đụng độ; nhưng thực tế - theo lời viên sĩ quan Larclause - thì quân triều đình đông, dân quân càng đông hơn và tinh thần chiến đấu thì rất gan dạ.

-Sự chống trả của triều đình nhà Nguyễn

Do những việc cấm đạo và tàn sát giáo dân của vua Minh Mạng mà ngay trong năm 1838 đã có sĩ quan Hải quân Fourichon đề nghị nước Pháp gửi Hải quân tới can thiệp nhưng bị Ngoại trưởng Pháp là Guizot bác bỏ. Dư luận Pháp thì sôi động vì sự ngược đãi giáo dân của Minh Mạng nên ủng hộ đề nghị dùng vũ lực. Khi Thiệu Trị nối ngôi có thái độ mềm mỏng hơn, cho thả một số linh mục bị bắt và tỏ ý sẽ cho tàu sang Châu Âu mua bán nhưng sự kiện đụng độ tại Đà Nẵng năm 1847 giữa tàu Pháp và Việt khiến nhà vua tức giận và ông ra lệnh xử tử ngay tại chỗ tất cả người Âu bắt được tại Việt Nam.

Hành động của Pháp khiến nhiều cuộc khởi nghĩa tự do nổi dậy

Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo. Triều đình không có một biện pháp nào đối phó với phương Tây, ngược lại chỉ cấm đạo và cấm mua bán quyết liệt hơn trước. Nhân vụ An Phong Công Hồng Bảo mưu phản, tìm cách liên hệ với các giáo sĩ để soán ngôi mà nhà vua cho công bố 2 đạo dụ cấm đoán Công giáo các năm 1848 và 1851, từ 1848-1860, đã có hàng vạn giáo dân bị tàn sát hay lưu đày. Cũng đồng thời lúc này, trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách: liên tiếp các năm 1864, 1866, 1868, 1867, 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng mà vua không quyết dưới sự bàn ra của các đình thần. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.

Về việc cá nhân, vua Tự Đức không có con nên ông truyền ngôi lại cho một người con của anh mình là vương tử Nguyễn Phúc Ưng Chân. Việc nối ngôi này liên tiếp gặp nhiều rối ren, Nguyễn Phúc Ưng Chân lên làm vua hiệu là Dục Đức được ba ngày thì bị phế bỏ rồi giết chết; một người con khác của vua Thiệu Trị là Nguyễn Phúc Hồng Dật lên nối ngôi tiếp với hiệu Hiệp Hòa tiếp cũng bị ép uống thuốc độc sau năm tháng, vị vua kế là Kiến Phúc cũng đột ngột qua đời (ghi là bệnh, nhưng nghi là bị đầu độc). Việc lập phế liên tiếp này chỉ kết thúc khi vua Hàm Nghi lên ngôi năm 1884